Điều kiện tự nhiên

1. Vị trí địa lý

Tọa độ địa lý:

Từ 15059' đến 16016' vĩ độ Bắc.
Từ 107037' đến 107054' kinh độ Đông.

  • Phía Bắc giáp Công ty lâm nghiệp Phú Lộc

  • Phía Nam giáp xã A Ting, Tà Lu huyện Đông Giang tỉnh Quảng Nam

  • Phía Đông giáp xã Hòa Bắc huyện Hoà Vang thành phố Đà Nẵng

  • Phía Tây giáp thị trấn Khe Tre tỉnh Thừa Thiên Huế

2. Đặc điểm địa hình

VQGBM là một phần của dãy Trường Sơn Bắc, có nhiều dãy núi với các đỉnh núi cao trên 1.000m chạy ngang theo hướng từ Tây sang Đông và thấp dần ra biển. Địa hình hiểm trở, bị chia cắt mạnh và rất dốc, độ dốc bình quân toàn khu vực là 150 - 250, nhiều nơi có dốc đứng trên 400. Dưới chân của các dải núi là những thung lũng hẹp, dài với những dòng suối trong và sạch tạo nên vẻ đẹp độc đáo thu hút khách du lịch, đồng thời góp phần cải tạo tiểu khí hậu vùng và cũng là một trong những điều kiện thuận lợi tạo nên ĐDSH vùng này. Nhìn chung VQGBM có địa hình phức tạp được cấu tạo bởi những ngọn núi cao, được phân chia đặc trưng thành hai kiểu địa hình phụ là núi trung bình và núi thấp.

2.1 Vùng núi trung bình

Độ dốc bình quân 25o - 30o, độ cao bình quân 900 - 1.000m, nhiều nơi có độ dốc >450, trong vùng có nhiều đỉnh cao >1.000m. Điển hình là các đỉnh núi cao như: đỉnh Truồi 1.170m, đỉnh Nôm 1.208m, đỉnh Atine 1.298m, đỉnh Abram cao 1.080m, đỉnh Cùi cao 1.094m, đỉnh Bạch Mã 1.450m và cao nhất là đỉnh Núi Mang 1.712m. Đây là vùng đất núi với thảm thực vật rừng chủ yếu là kiểu rừng kín thường xanh mưa mùa á nhiệt đới được phân bố ở độ cao trên 900m. Nằm ở độ cao từ 1.000m đến 1.712m, là nơi tập trung, đan xen giữa các loài thực vật á nhiệt đới và nhiệt đới, tạo nên cảnh sắc đặc trưng, hấp dẫn du khách.

2.2. Vùng núi thấp

Độ cao bình quân của khu vực này là 400 - 500m, độ dốc trung bình 15 - 250, có những nơi độ dốc trên 350. Thảm thực vật rừng của khu vực là kiểu rừng kín thường xanh mưa mùa nhiệt đới. Kiểu rừng vùng này phân tầng rõ rệt và thành phần loài rất phong phú.

3. Khí hậu thủy văn
3.1. Khí hậu

Vườn nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa. Khí hậu nhiệt đới của vùng Bạch Mã chịu ảnh hưởng của hai hiện tượng chính: gió mùa Đông Bắc kéo theo mưa từ tháng 9 đến tháng 4 năm sau; gió mùa Tây Nam kéo theo khô hạn từ tháng 5 đến tháng 9.

Qua số liệu cung cấp tại các trạm khí tượng thuỷ văn về khí hậu VQGBM, Một số đặc trưng khí hậu khu vực VQGBM như sau:

Nhiệt độ bình quân năm của vùng Bạch Mã là 250C (chân Vườn), Nam Đông là 240C, khu vực đỉnh Bạch Mã là 190C (độ cao >1.200m).
Chế độ nhiệt có sự khác nhau theo năm tháng, theo độ cao, theo vùng. Càng lên cao nhiệt độ càng giảm, từ độ cao >1.000m cứ lên cao 100m thì nhiệt độ giảm đi 10C, đó cũng chính là nguyên nhân dẫn đến nhiệt độ bình quân tại khu vực đỉnh Bạch Mã thấp hơn so với nhiệt độ bình quân toàn vùng và chân vùng Bạch Mã.

Lượng mưa theo biểu đồ sinh khí hậu (Nguyễn Khánh Vân và cộng sự, 2000), sự phân biệt giữa mùa mưa và mùa khô không rõ rệt. Thời gian mưa tập trung nhiều nhất bắt đầu từ tháng 5 và kết thúc vào tháng 12. Các tháng khác đều có lượng mưa lớn, trừ tháng 3 hàng năm (mưa dưới 50mm).
Khu vực đỉnh Bạch Mã là nơi có lượng mưa lớn nhất tỉnh Thừa Thiên Huế cũng như khu vực miền Trung. Kết quả nghiên cứu khí tượng thuỷ văn của khu vực đỉnh Bạch Mã từ năm 1998 - 2000 cho thấy lượng mưa tại khu vực đỉnh Bạch Mã lên tới 10.758 mm/năm.

Xét về tổng thể, lượng mưa trung bình lớn nhất ở khu vực Bạch Mã là 8.000 mm/năm, lượng mưa bình quân năm trên toàn vùng là 3.440mm.

Độ ẩm khu vực đỉnh Bạch Mã khá cao, chiếm 90%. Độ ẩm bình quân toàn vùng là 85%. Ẩm độ giữa hai đai cao có sự khác biệt lớn, từ độ cao 900m trở lên sương mù hầu như quanh năm bao phủ, tạo khí hậu mát mẻ ôn hoà.

Với nhiệt độ mát mẻ vào mùa hè chỉ từ 180 - 230C, Bạch Mã là nơi nghỉ dưỡng lý tưởng để du khách có thể tránh được cái nóng oi bức ở vùng đồng bằng. Đây là lý do tại sao mà người Pháp trước đây đã phát hiện và xây dựng nên khu vực này và hiện nay nhiều doanh nghiêp du lịch trong tỉnh đã đầu tư khôi phục lại các ngôi biệt thự cũ để là nơi đón tiếp khách tham quan, nghỉ ngơi.

3.2. Thuỷ văn

Do đặc điểm của địa hình địa thế nên hệ thống thuỷ văn của khu vực Bạch Mã rất dày đặc. Đây cũng là nơi điều hòa nguồn nước cho các con sông lớn trong vùng như: sông Truồi, sông Cuđê và nhất là sông Tả Trạch (đầu nguồn của sông Hương). Bạch Mã là nguồn dự trữ nước cực kỳ quan trọng cho các xã vùng đệm của Vườn Quốc gia.

Đặc biệt hiện nay trên thượng nguồn sông Truồi thuộc địa bàn VQGBM quản lý đã xây dựng một hồ chứa nước với dung tích khoảng 60.000.000m3 nhằm cung cấp nước phục vụ cho sản xuất nông lâm nghiệp, đẩy mặn cho sông Hương, góp phần cải tạo tiểu khí hậu vùng và giữ ẩm cho cây nông nghiệp, lâm nghiệp sinh trưởng và phát triển.

4. Địa chất - thổ nhưỡng

Tổng diện tích điều tra của vườn là 37.487,0 ha, trong đó 98,9 % diện tích thuộc nhóm đất Feralit, được kiến tạo bởi nền vật chất gồm các nhóm đá mẹ sau:

  • Nhóm đá Măc ma axít, ký hiệu (a)

  • Nhóm đá Sét và Biến chất, ký hiệu (s)

  • Nhóm mẫu chất Phù sa cổ, ký hiệu (p)

  • Nhóm mẫu chất Phù sa mới, ký hiệu (Pb)

Nền địa chất của dãy núi Bạch Mã ít phức tạp, phần lớn diện tích là đá Sét và Biến chất, đá Măc ma axit. Ở độ cao trên 900m có đất Feralit vàng trên núi phát triển từ đá Mac ma axit. Độ cao dưới 900m chủ yếu là đất Feralit vàng hay vàng đỏ. Các thung lũng có đất dốc bồi tụ ven sông suối.

5. Tài nguyên rừng
1. Về thảm thực vật

Thảm thực vực là nền cơ bản, điều kiện, môi trường sống cho muôn loài động - thực vật trên cạn và dưới nước phân bố, sinh tồn và phát triển. Qua kết quả của nhiều nhà nghiên cứu thì thảm thực vật Bạch Mã có những đặc trưng cấu trúc cơ bản như sau:
1.1. Thảm thực vật tự nhiên
- Kiểu 1: Rừng rậm thường xanh nhiệt đới ưa mưa thuộc đai thấp dưới 900m: Gồm có 4 trạng thái rừng giàu, rừng trung bình, rừng nghèo và rừng non phục hồi, có các quần xã chính:
+ Rừng rậm thường xanh nhiệt đới ưa mưa cây lá rộng ít bị tác động, ưu thế các loài như: Chò (Parashorea stellata), Ươi (Scaphium macropodium), Sâng (Pometia pinnata), Huỷnh (Heritiera cochinchinensis), Kiền kiền (Hopea siamensis)…
+ Rừng rậm thường xanh nhiệt đới ưa mưa cây lá rộng, thứ sinh bị tác động mạnh, ưu thế các loài như: Ràng rang (Ormosia dasycarpa), Lá nến (Macaranga denticulate), Thành ngạnh (Cratoxylon formosum), Vạng (Endospermum chinense), Ba bét (Mallotus paniculatus)…
+ Trảng cây bụi thứ sinh, thường xanh cây lá rộng, ưu thế các loài như: Sim (Rhodomyrtus tomentosa), Thành ngạnh (Cratoxylon formosum), Ba bét (Mallotus paniculatus), Cỏ lào (Eupatorium odoratum), Mắc cở (Mimosa pudica)…
+ Trảng cỏ nhiệt đới thứ sinh, ưu thế các loài như: Lau (Saccharum spontaneum), Cỏ tranh (Imperata cylindrical)…
- Kiểu 2: Rừng rậm thường xanh nhiệt đới gió mùa đai núi thấp trên 900m: gồm có 3 quần xã của các trạng thái là rừng nghèo và rừng non phục hồi.
+ Rừng rậm thường xanh nhiệt đới gió mùa ít bị tác động từ (900 -1292m), các loài ưu thế như: Tùng Bạch Mã (Dacrydium elatum), Dẻ Cau (Lithocarpus fenestratus), Giổi (Michelia foveolata), Sồi (Quercus thorelii), Thích Bắc bộ (Acer tonkinensis), Gò đồng nách (Gordnia axillaris), Hồi lá nhỏ (Illicium parviflorum)…
+ Rừng rậm thường xanh nhiệt đới gió mùa bị tác động mạnh (1292-1400m), các loài ưu thế như: Kháo rè (Phoebe tavoyana), Sổ dã (Saurauia roxburghii), Thích Bắc bộ (Acer tonkinensis), Gò đồng nách (Gordnia axillaris), Đỗ quyên (Rhododendron simsii)…
+ Trảng cỏ cây bụi thứ sinh, thường xanh nhiệt đới (trên 1.400m), chiếm diện tích không đáng kể, các loài cây ưu thế như: Kháo rè (Phoebe tavoyana), Sim (Rhodomyrtus tomentosa), các loài thảo họ Poaceae,…
1.2. Các kiểu thảm thực vật nhân tạo:
Là diện tích trồng cây lâm nghiệp của các Lâm trường trước khi quy hoạch thành lập Vườn Quốc gia, diện tích này không đáng kể, chủ yếu các loài như thông nhựa (Pinus merkusii), Trầm (Aquilaria crassna), Keo tai tượng (Acacia maginum),…

2. Động thực vật:
- Về động vật:

Về hệ động vật điều tra nghiên cứu chưa đầy đủ nhưng đã ghi nhận được 1.715 loài (chiếm 7% tổng số loài trong cả nước) thuộc 52 bộ, 258 họ, 1080 giống; số loài gấp 1,7 lần so với năm 2001. Hệ động vật ở đây rất đa dạng, có nhiều loài đặc hữu và quý hiếm và được thống kê chi tiết: Côn trùng có 17 bộ, 137 họ, 708 giống, 1.029 loài; Cá 6 bộ, 17 họ, 46 giống, 57 loài; Ếch nhái - Bò sát có 3 bộ, 19 họ, 64 giống, 134 loài; Chim có 16 bộ, 57 họ, 189 giống, 363 loài; Thú có 10 bộ, 28 họ, 73 giống, 132 loài.
Qua kiểm kê, có nhiều loài đặc hữu, quý hiếm có nguy cơ bị đe dọa được đưa vào Sách Đỏ Việt Nam cần phải có giải pháp ưu tiên bảo tồn như sau:
- Theo Sách Đỏ Việt Nam, Vườn có 69 loài được liệt kê cần phải được bảo vệ, điển hình các loài như: Voọc vá chân nâu (Pygathrix nemaeus nemaeus), Sói lửa (Cuon alpinus), Cầy mực (Arctictis binturong), Báo hoa mai (Panthera pardus), Sao la (Pseudoryx nghetinhensis), Mang Lớn Megamuntiacus vuquangensis, Mang Trường Sơn Caninmuntiacus truongsonensis, Gà lôi lam mào trắng (Lophura edwardsi), Bồ câu nâu (Columba punicea), Trăn mốc (Python molurus), Rắn ráo (Ptyas korros), Rùa hộp trán vàng (Cuora galbinifrons), Rùa đầu to (Platysternon megacephalum), Cá chình hoa (Anguilla marmorata)…
- Có 15 loài đặc hữu, chủ yếu tập trung vào lớp Chim chiếm đến 13 loài điển hình có các loài Gà lôi trắng (Lophura nycthemera), Gà lôi lam mào trắng (Lophura edwardsi), Gà so Trung bộ (Arborophila merlini), Gà so họng hung (Arborophila rufoguralis), Rắn lục sừng (Trimeresurus cornutus), Rùa hộp trán vàng (Cuora galbinifrons)…
- Có 2 loài Ong mới cho khoa học được phát hiện và mang tên Bạch Mã là Spinaria bachmana Long & van Achterberg, Vietorogas bachma Long.

 

Bảng: Tổng hợp số lượng động vật đặc hữu và có tên trong Sách Đỏ Việt Nam

Đơn vị tính: Loài

Hệ động vật Số lượng Sách Đỏ Việt Nam Đặc hữu
Côn trùng 1.029 1  
57 2  
Ếch nhái - Bò sát 134 12 2
Chim 363 16 13
Thú 132 38  
Tổng 1.715 69 15

- Về thực vật:
Về hệ nấm và thực vật có là 2.373 loài (chiếm gần 17% tổng số loài thực vật trong cả nước) phạm vi cả số loài gấp hơn 5 lần so với năm 1991 và gấp 1,6 lần so với năm 2001. Cụ thể chi tiết: Nấm có 55 họ, 332 loài. Rêu có 25 họ, 87 loài; Dương xỉ & họ hàng thân cận có 28 họ, 183 loài; Ngành Hạt trần có 7 họ, 22 loài; Ngành Hạt kín có 157 họ, 1.749 loài, trong đó lớp Một lá mầm có 464 loài, Hai lá mầm có 1.285 loài.
Qua kết quả kiểm kê, có nhiều loài thực vật đặc hữu, quý hiếm được ghi vào Sách Đỏ Việt Nam cần được ưu tiên bảo tồn:
- Theo Sách Đỏ Việt Nam (2007) có 73 loài cần phải được bảo vệ, bao gồm các loài điển hình như: Pơ mu (Fokienia hodginsii), Trầm hương (Aquilaria crassna), Gụ lau (Sindora tonkinensis), Gụ mật (Sindora siamensis), Kiền kiền (Hopea pierrei), Kim tuyến (Anoectochilus roxburghii), Bảy lá một hoa (Paris polyphylla),…
- Đặc hữu có 204 loài, bao gồm các loài điển hình như: Kim giao (Nageia fleuryi), Chân chim Pà Cò (Schefflera pacoensis), Cà na mũi nhọn (Canarium subulatum), Hoàng linh Bắc bộ (Peltophorum dasyrrachis), Song đinh Việt Nam (Diplopanax vietnamensis), Côm lá hẹp (Elaeocarpus angustifolius), Đỗ quyên vân cẩm (Rhododendron fortunei), Bọt ếch Bạch Mã (Glochidion bachmaensis), Cà đuối Trung bộ (Cryptocarya annamensis), Mã tiền núi Đinh (Strychnos dinhensis),…

- Có 5 loài mới cho khoa học, được phát hiện đầu tiên và đặt tên Bạch Mã gồm:

  • Chìa vôi Bạch Mã (Cissus bachmaensis Gagnep.)

  • Côm Bạch Mã (Elaeocarpus bachmaensis Gagnep.)

  • Lá nón Bạch Mã (Licuala bachmaensis Henderson, N.K.Ban & N.Q.Dung)

  • Mây Bạch Mã (Calamus bachmaensis Henderson, N.K.Ban & N.Q.Dung)

  • Bọt ếch Bạch Mã (Glochidion bachmaensis Thin)

Bảng: Tổng hợp số lượng nấm và thực vật đặc hữu và có tên trong Sách Đỏ Việt Nam

Đơn vị tính: Loài

Hệ nấm và thực vật Số lượng loài Sách Đỏ Việt Nam Đặc hữu
Nấm 332 4  
Rêu 87   11
Dương xỉ và họ hàng thân cận 183 1 19
Hạt trần 22 6 1
Hạt kín
- Một lá mầm
- Hai lá mầm

464
1.285

22
40

26
147
Tổng 2.373 73 204

Ngoài ra, trong hai đợt khảo sát thực địa tại khu vực Núi Mang (vùng đỉnh có độ cao từ 1.000m - 1.712m), đây là khu vực mở rộng của Vườn Quốc gia Bạch Mã, đã ghi nhận được sự hiện diện của một số loài thực vật, bổ sung cho hệ thực vật Bạch Mã:

  • Thông Đà Lạt (Pinus dalatensis Ferre)

  • Pơ mu (Fokienia hodginsii (Dunn) A. Henry & H. Thomas)

  • Hồng quang Champion (Rhodoleia champion Hook. f.)

  • Chổi sể (Baeckea frutescens L.)

 
  Đầu trang   |   In ấn 
Các bài viết khác:

Tour du lịch

Tour du lịch Huế - Bạch Mã
Thời gian tour: 1 ngày hoặc 2 ngày
Giá tour: Liên hệ

Du lịch sinh thái

Hồ Truồi - Thiền Viện Trúc Lâm Bạch Mã

Hồ Truồi có diện tích khoảng 400 ha, trước kia diện tích hồ lòng hồ rất nhỏ, vì mục đích tưới tiêu cho...

Đường mòn Rừng Chò Đen

Cách khu nhà nghỉ của VQG Bạch Mã khoảng 3 km đi xuống theo đường ô tô (ở km 14), bạn sẽ nhận ra tấm bảng...